Hà Nội, Chủ nhật Ngày 05/02/2023

Doanh nghiệp cần tuân thủ chặt chẽ quy định về truy xuất nguồn gốc

vietq 11:12 11/11/2022

Các doanh nghiệp cần chủ động chuẩn bị năng lực, nguồn hàng, nâng cao sức cạnh tranh thông qua việc xây dựng kế hoạch dài hạn, bài bản và tuân thủ chặt chẽ các quy định về truy xuất nguồn gốc.

Điểm nhấn tích cực sau hai năm thực thi EVFTA

Hai năm đầu thực thi EVFTA vừa qua cũng là khoảng thời gian mà kinh tế thế giới và Việt Nam phải đối mặt với những biến động chưa từng có, từ dịch bệnh COVID-19, đứt gãy chuỗi cung ứng, đến xung đột Nga-Ukraine, khủng hoảng năng lực, lương thực… Tuy nhiên, theo ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI, các số liệu thống kê vĩ mô cho thấy, EVFTA đã góp phần quan trọng làm giảm nhẹ các tác động bất lợi, giúp quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và EU phát triển khả quan.

Về thương mại, tổng kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang EU hai năm đầu thực thi (8/2020-7/2022) đạt 83,4 tỷ USD, tức trung bình 41,7 tỷ USD/năm, cao hơn tới 24% so với kim ngạch xuất khẩu trung bình năm giai đoạn 2016-2019 trước đó. Tỉ lệ hàng xuất khẩu tận dụng ưu đãi thuế quan EVFTA năm 2020 đạt 14,8%, tăng lên 20,2% năm 2021 và 24,5% trong 6 tháng đầu năm 2022.

Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), FDI của EU vào Việt Nam năm 2020 đạt gần 1.376 triệu USD vốn đăng ký, giảm 8,6% so với 2019, đứng thứ 8 và chiếm 4,8% tổng vốn FDI vào Việt Nam. Năm 2021, tình hình có cải thiện hơn, với tổng vốn hơn 1.405 triệu USD, tăng 2,2%, giúp EU vươn lên đứng thứ 5 nhưng tỷ trọng trong tổng FDI giảm nhẹ, chiếm 4,5%. Đặc biệt, tổng vốn đầu tư bình quân năm 2 giai đoạn 2017-2021 (giai đoạn sau khi EVFTA hoàn tất đàm phán) tăng 86% so với thời gian 2015-2016 liền trước đó. Tuy nhiên, đầu tư vào Việt Nam mới chỉ chiếm một tỷ trọng rất khiêm tốn trong tổng đầu tư ra nước ngoài của EU (0,35% năm 2021).

Theo bà Nguyễn Cẩm Trang, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), EVFTA đã góp phần đáng kể thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường đối tác. Cụ thể, trong hai năm thực thi hiệp định này, nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng sang thị trường EU (như sắt thép tăng 739%; máy ảnh, máy quay phim, linh kiện tăng 260%; máy móc và thiết bị tăng 82,3%...).

Một số mặt hàng mới cũng tăng trưởng cao như nhóm gạo, sản phẩm mây tre, cói thảm (tăng trên 50%); các sản phẩm gốm, sứ (tăng trên 25%); nhóm rau quả, dây diện và dây cáp điện (tăng trên 15%)...

Đại diện Bộ Công Thương nêu một số kịch bản tăng trưởng một số mặt hàng chủ lực và khẳng định dư địa vẫn còn lớn. Thị phần của Việt Nam mới chiếm 1% nhập khẩu của EU. Việt Nam có nhiều sản phẩm quả nhiệt đới thế mạnh, như ổi, xoài, măng cụt, sầu riêng, chuối, dưa hấu, dừa; mặt hàng chủ lực tôm sú, tôm chân trắng đông lạnh, cá ngừ; các mặt hàng có lợi thế thuế ưu đãi, như mực, bạch tuộc, hàu, sò điệp, bào ngư.

Từ góc độ của từng DN, thông tin từ kết quả khảo sát doanh nghiệp về EVFTA được bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và hội nhập (VCCI) chia sẻ cho thấy, tỉ lệ các DN Việt Nam từng được hưởng lợi từ EVFTA là rất đáng khả quan, với gần 41% cho biết đã từng hưởng ít nhất một lợi ích nào đó từ EVFTA.

Lợi ích phổ biến nhất là từ các ưu đãi thuế quan đối với hàng xuất-nhập khẩu và hiệu ứng tích cực trong gia tăng đơn hàng, doanh thu, lợi nhuận. Theo kết quả khảo sát, điều này có thể là kết quả của sự cải thiện trong mức độ hiểu biết của DN về hiệp định này. Theo khảo sát, có tới gần 94% DN từng nghe nói hoặc biết ở các mức độ khác nhau về EVFTA, cao nhất trong số các FTA đang thực hiện.

Cứ 10 DN thì có 3 DN biết khá rõ và 1 DN biết rất rõ về các cam kết EVFTA có liên quan tới hoạt động kinh doanh của mình. Nhìn về tương lai, 76% DN cho rằng các EVFTA, FTA sẽ có tác động tới triển vọng kinh doanh trong 3 năm tới, và phần lớn lạc quan đây sẽ là các tác động tích cực. Tuy nhiên, DN cũng chỉ ra các lực cản có thể khiến họ khó hưởng lợi từ EVFTA và các FTA. Đáng kể nhất là biến động và bất định của thị trường (47% DN đề cập), năng lực cạnh tranh hạn chế (46%), thiếu thông tin về cam kết và cách thức tận dụng (40%).

Ảnh minh hoạ

Về công tác xây dựng pháp luật thực thi EVFTA, kết quả rà soát của VCCI cho thấy, trong hai năm qua đã có 9 văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) được sửa đổi, bổ sung, ban hành nhằm thực thi các cam kết cụ thể trong 6 chương và 1 nghị định thư của Văn kiện EVFTA. Mặc dù được soạn thảo với tiến độ nhanh hơn thông thường, phần lớn các VBQPPL thực thi EVFTA đều ban hành chậm so với mốc yêu cầu của Hiệp định là ngày 1/8/2020 (trung bình các VBQPPL về thương mại hàng hóa ban hành chậm 66 ngày, các văn bản về quy tắc chậm 632 ngày).

Trong khi tất cả văn bản này đều bảo đảm tuân thủ yêu cầu cam kết (thông qua quy định về áp dụng hồi tố, áp dụng trực tiếp hoặc cách thức khác), việc ban hành chậm vẫn ít nhiều ảnh hưởng tới hiệu quả tận dụng cam kết EVFTA giai đoạn đầu của DN. Về mức độ tương thích, rà soát cho thấy phần lớn quy định trong các VBQPPL thực thi EVFTA đều tương thích với cam kết của hiệp định mà chúng "nội luật hóa".

Một số trường hợp quy định còn thực hiện các cam kết ở mức cao hơn yêu cầu hoặc với lộ trình sớm hơn (nhất là các quy định về đấu thầu gói thầu EVFTA). Tuy nhiên, vẫn có một vài trường hợp quy định "nội luật hóa" chưa hoàn toàn bám sát cam kết (ví dụ về sở hữu trí tuệ), đặt thêm điều kiện làm hạn chế quyền hưởng ưu đãi (ví dụ về điều kiện nộp chậm chứng từ xuất xứ), hoặc hiện trạng pháp luật chưa bảo đảm việc thực thi cam kết EVFTA trên thực tế (ví dụ về quyền tự do liên kết của người lao động).

Doanh nghiệp cần nắm bắt cơ hội

TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đã đưa ra các dự báo về bối cảnh và triển vọng kinh tế EU thời gian tới cùng khuyến nghị với doanh nghiệp trong tận dụng EVFTA. Nêu một số giải pháp để tận dụng cơ hội EVFTA, ông Lê Xuân Sang cho rằng, Nhà nước cần hỗ trợ, đồng hành cùng DN tranh thủ nhu cầu khi các nước EU cắt giảm sản xuất đối với một số mặt hàng công nghiệp nặng, hóa chất, phân bón, thép. Cần triển khai mạnh mẽ các hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu thông qua các kênh hệ thống thương vụ, thương mại điện tử xuyên quốc gia, hỗ trợ thông tin thị trường tháo gỡ các rào cản để đa dạng hóa thị trường thúc đẩy xuất khẩu.

Cần có các chính sách hỗ trợ DN hơn nữa về thông tin thương mại EU thông qua phát triển hệ thống thông tin thị trường, tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại, tăng cường công tác phân tích, dự báo thị trường và nghiên cứu, ban hành các chính sách tạo thuận lợi cho DN, qua đó hỗ trợ DN Việt Nam tham gia trực tiếp, hiệu quả chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị hàng nông sản khu vực EU. Tăng cường công tác cảnh báo các quy định về rào cản và những vấn đề phát sinh đối với nông sản xuất khẩu.

Các DN cần có sự chuẩn bị, hướng dẫn về lĩnh vực phòng vệ thương mại để có ứng phó phù hợp trong trường hợp bị các nước thành viên của hiệp định khởi xướng điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Các DN cần chủ động chuẩn bị năng lực, nguồn hàng, nâng cao sức cạnh tranh thông qua việc xây dựng kế hoạch dài hạn, bài bản và tuân thủ chặt chẽ các quy định về truy xuất nguồn gốc, đồng thời xây dựng và bảo vệ thương hiệu để thúc đẩy xuất khẩu sang EU bền vững...

Bạn đang đọc bài viết Doanh nghiệp cần tuân thủ chặt chẽ quy định về truy xuất nguồn gốc tại chuyên mục Tư vấn chiến lược. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0915 15 67 76 - 0904 065 256 Hoặc email: [email protected]
Tin cùng chuyên mục Tư vấn chiến lược