Lợi nhuận quý III sụt giảm
Theo báo cáo kết quả hoạt động hợp nhất, trong quý III/2026, KienlongBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 537,2 tỷ đồng, giảm 12,79% so với mức 615,3 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt 429 tỷ đồng, giảm 12,8% so với mức 491,9 tỷ đồng. Tuy nhiên, lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, lợi nhuận trước thuế đạt 1.712,9 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế đạt 1.368,4 tỷ đồng, tăng 11,4%.
Theo báo cáo tài chính, nguyên nhân lợi nhuận quý III sụt giảm chủ yếu đến từ chi phí trả lãi tăng nhanh hơn nhiều so với thu nhập lãi, nguồn thu dịch vụ suy giảm và chi phí hoạt động gia tăng đột biến. Trong khi đó, sự cải thiện của hoạt động ngoại hối, thu nhập khác và việc tiết giảm dự phòng rủi ro tín dụng không đủ bù đắp các khoản suy giảm trên.
Cụ thể, trong quý III/2026, thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự của KienlongBank đạt 2.562,7 tỷ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước, tương đương tăng khoảng 396,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, chi phí lãi và các khoản chi phí tương tự tăng tới 42,1%, từ 1.188,5 tỷ đồng lên 1.689,2 tỷ đồng, tương đương tăng thêm 500,7 tỷ đồng.
Như vậy, phần chi phí lãi tăng thêm đã vượt mức tăng thu nhập lãi khoảng 104,4 tỷ đồng, khiến thu nhập lãi thuần giảm tương ứng 10,7%, từ 977,9 tỷ đồng xuống 873,6 tỷ đồng.
Đáng chú ý, theo thuyết minh báo cáo tài chính, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn bằng VND tại cuối tháng 9/2026 đạt khoảng 73.718 tỷ đồng, tăng 14,2% so với cuối năm 2025. Ngược lại, tiền gửi không kỳ hạn bằng VND giảm khoảng 18,6%, từ 5.830 tỷ đồng xuống 4.745 tỷ đồng. Sự dịch chuyển theo hướng tăng tiền gửi có kỳ hạn, trong khi tiền gửi không kỳ hạn suy giảm, là một yếu tố góp phần làm gia tăng chi phí huy động vốn.
Không chỉ thu nhập lãi thuần, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ trong quý III cũng giảm 18,5%, xuống còn 133,7 tỷ đồng. Chi phí hoạt động tăng mạnh 36,4%, lên 642,8 tỷ đồng, tương đương tăng thêm 171,6 tỷ đồng so với cùng kỳ. Điều này khiến tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hoạt động (CIR) tăng từ khoảng 38,5% lên 51,6%.
Cụ thể hơn, chi phí nhân viên 9 tháng giảm 24,3%, từ 853,3 tỷ đồng xuống 645,6 tỷ đồng. Số lượng cán bộ, nhân viên bình quân cũng giảm từ 3.530 người xuống 3.162 người, tương đương giảm 10,4%. Trái lại, một số khoản chi phí khác lại gia tăng đáng kể. Chi phí quản lý và công vụ tăng 18,2%, lên 229,8 tỷ đồng; chi phí tiếp thị, quảng cáo và vật liệu văn phòng tăng từ 41,5 tỷ đồng lên 94,4 tỷ đồng, tương đương tăng 127,5%. Đặc biệt, khoản chi phí dự phòng rủi ro các tài sản có nội bảng đạt 340,9 tỷ đồng là yếu tố góp phần làm tổng chi phí hoạt động tăng, dù ngân hàng đã tiết giảm đáng kể chi phí nhân sự.
Cơ cấu tín dụng dịch chuyển
Tại ngày 30/9/2026, tổng dư nợ cho vay khách hàng của KienlongBank đạt 78.465,3 tỷ đồng, tăng 6.877,6 tỷ đồng, tương đương 9,6% so với cuối năm 2025. Tuy nhiên, đáng chú ý hơn quy mô tăng trưởng là sự dịch chuyển trong cơ cấu tín dụng.
Theo thuyết minh dư nợ theo ngành, cho vay ngành xây dựng đạt 41.093,4 tỷ đồng, tăng 24,9% so với cuối năm 2025. Với quy mô này, dư nợ ngành xây dựng chiếm tới 52,4% tổng dư nợ cho vay khách hàng, tăng so với tỷ trọng khoảng 46% cuối năm trước.
Trong khi đó, dư nợ ngành bất động sản (kinh doanh, tự sử dụng) giảm mạnh từ 7.762,6 tỷ đồng xuống còn 3.993,7 tỷ đồng, tương đương giảm 48,6%. Tỷ trọng của nhóm này giảm từ 10,8% xuống 5,1%.
Diễn biến trái chiều giữa hai lĩnh vực cho thấy cơ cấu tín dụng của ngân hàng có sự thay đổi đáng kể trong 9 tháng đầu năm. Đặc biệt, ngành xây dựng đang trở thành lĩnh vực tập trung dư nợ lớn nhất theo phân loại ngành của ngân hàng.
Xét theo đối tượng khách hàng, dư nợ cho vay công ty trách nhiệm hữu hạn đạt 60.480,7 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cuối năm trước. Ngược lại, dư nợ hộ kinh doanh và cá nhân giảm 9,7%, xuống 14.032,1 tỷ đồng. Điều này cho thấy tăng trưởng tín dụng của KienlongBank chủ yếu đến từ nhóm khách hàng doanh nghiệp.
Trong khi đó, huy động vốn từ khách hàng tăng nhanh hơn tín dụng khoảng 4 điểm phần trăm. Về cơ cấu, tiền gửi cá nhân đạt 77.130,9 tỷ đồng, chiếm khoảng 94,3% tổng tiền gửi khách hàng. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt 4.695,8 tỷ đồng, chiếm khoảng 5,7%.
Về phân loại chất lượng nợ, tổng nợ xấu nhóm 3, 4 và 5 tại KienlongBank đạt 1.557,5 tỷ đồng vào cuối tháng 9/2026, tăng 222,8 tỷ đồng, tương đương 16,7% so với cuối năm 2025. Đáng chú ý, nợ nhóm 3 tăng 48,2%, trong khi nợ nhóm 5 tăng 24,8%. Đây là hai nhóm đóng góp chính vào mức tăng nợ xấu của ngân hàng. Ngược lại, nợ nhóm 4 giảm khoảng 10,1%. Mặc dù nợ xấu tăng 16,7%, số dư dự phòng cho vay khách hàng chỉ tăng 7,3%, khiến tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm từ khoảng 88% xuống 80,9%.















